Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Từ bi trong đạo Phật

Vào ngày 28/11/2015, TT. Thích Nhật Từ đã có buổi chia sẻ với đề tài: Từ bi trong đạo Phật tại chủng viện Phanxicô, nơi đào tạo 200 chủng sinh và tu sỉ của Thiên Chúa giáo. Nhân đây, BBT xin giới thiệu dàn bài sơ lược về chủ đề này do TT. Thích Nhật Từ biên soạn.
I. KHÁI NIỆM
1. Vị trí
- Hai trong bốn tâm cao thượng (P.appamaññā) hoặc bốn phạm trú (Brahma-vihāra"divine abodes"). Hai tâm còn lại là tâm hoan hỷ (Muditā)tâm buông xả (Upekkhā). (D.II.196; D.III.220; Dhs. 262; Vism.320).
- Yếu tố 9 trong trong mười toàn thiện (P.pāramī, S. ), dẫn đến sự giác ngộ (Bodhi), chứng đắc Phật quả (Buddhahood).
- Mười toàn thiện: (i) Tặng biếu (dāna), (ii) Đạo đức (Sīla), (iii) Xuất gia (Nekkhamma), (iv) Trí tuệ (Paññā)(v) Tinh tấn (Viriya), (vi) Kiên trì (Khanti), (vii) Chân thật (Sacca), (viii) Quyết định (Adhiṭṭhāna), (ix) Tâm từ (Mettā), (x) Buông xả (Upekkhā).
2. Ngữ nghĩa
(i) Bi tâm (Karuṇā): Đau xót trước khổ đau của chúng sinh, muốn chúng sinh hết khổ đau, bất hại, không làm khổ chúng sanh. Dịch từ trong tiếng Anh: Compassion.
(ii) Từ tâm (Mettā): Vô sân, không nóng nảy, không bực phiền; tâm mát mẻ, thiện cảm với chúng sanh, mong tất cả được an lạc.
- Dịch từ trong tiếng Anh: loving kindness, universal love, benevolence, friendliness.
- Tâm từ (P. mettā, S. maitrī): Lòng tốt (goodwill) và sự tử tế (kindness) vô điều kiện. Tình thương tử tế (Loving-kindness).
3. Điều kiện: (i) Vô ngã, (ii) Vị tha, (iii) Hiểu biết, (iv) Tha thứ, (v) Buông xả, (vi) Phụng sự.

II. CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA TỪ BI
1. Từ bi bằng hành động # Từ bi thuần túy (pure compassion).
- Từ bi bằng tư duy, từ bi bằng lời nói, từ bi bằng hành vi => quan tâm, giúp đỡ, giải quyết vấn nạn, mang lại an vui.
- Bản Sớ giải giải thích từ bi gồm 5 hành động khẩu và thân và 3 hành động tâm không tổn hại:
(a) tránh và không làm phiền nhiễu (harassment);
(b) tránh và không công kích (offensiveness);
(c) tránh và không tra tấn (torturing);
(d) tránh và không hủy diệt (destructiveness);
(e) tránh và không làm phật ý (vexing);
(f) Mong chúng sinh được thân thiện, không thù địch nhau;
(g) Mong chúng sinh được hạnh phúc, thanh bình;
(h) Mong chúng sinh được phúc lợi, không sầu khổ.
2. Quán tình huyết thống:
- Tất cả chúng sinh đều đã từng là người thân và bạn bè của ta trong các kiếp quá khứ.
- Hại người khác ở hiện tại là đang hại người thân quá khứ của chính mình.
- Cảm thông nỗi đau của chúng sinh, quan tâm, giúp đỡ, cứu vãn, tìm giải pháp dứt điểm.

III. THỰC TẬP TÂM TỪ
Giải thoát tâm bằng từ bi (P. mettācetovimuttithe liberation of the heart by benevolence)
- Thực tập từ bi mang lại tự do của tâm (metta practice leads to freedom of mind).
- Từ bi xóa bỏ hận thù. Hận thù là cảm xúc hủy hại. “Khi thoát khỏi hận thù, đó là giải thoát tâm bằng từ bi” (For this is the escape from ill-will, that is to say, the freedom of mind wrought by universal love) (D. III. 234).
1. Kinh Tăng chi(A. ii.7)
Đối tượng thụ hưởng tâm từ bi: (i) Bản thân, (ii) Thân quyến, (iii) Bạn tốt, (iv) Người trung tính, (v) Người khó chịu, (vi) Kẻ thù, (vii) Toàn thế giới.
- “Này các đệ tử, ta biết rằng không có gì hơn được ‘giải thoát tâm bằng từ bi’, theo đó tâm sân chưa khởi lên sẽ không xuất hiện, tâm sân đã khởi lên sẽ bị trừ diệt.”

2. Karaniya Metta Sutta (Sn 1.8)

- Đối tượng: yếu hay mạnh, nhỏ hay lớn, tế hay thô, thấy được hay không thấy được, gần hay xa, người hay vật
- Trong hạnh phúc và an toàn, mong chúng sinh bình an, trong đi, đứng, ngồi, nằm
- Làm lợi ích chúng sinh như “từ mẫu” bảo vệ sự sống của đứa con duy nhất bằng tâm từ vô hạn
- Không lừa dối, không giận dữ, không sát hại, không lười biếng, không thất niệm, không tà kiến, không vướng khoái lạc, không tái sinh.
3. Patisambhidamagga 2: Mục hướng dẫn về tâm từ (Mettākathā)
Phủ khắp 12 đối tượng và 10 phương
- Nội dung thiền: Cầu tất cả chúng sinh thoát khỏi: hận thù, bệnh tật, lo lắng và sống hài lòng (Sabbe sattā, averā abyāpajjā anīghā, sukhī attāna pariharantu)
- Năm đối tượng chung (anodhiso pharaṇā): (i) các chúng sinh (sabbe sattā ), (ii) các vật có sự thở (sabbe pāṇā bhāvapariyāpannā), (iii) các sinh vật (sabbe bhūtā bhāvapariyāpannā), (iv) mọi người (sabbe puggalā bhāvapariyāpannā), (v) tất cả với nhân cách (sabbe attabhāvapariyāpannā)
- Bảy đối tượng cụ thể (anodhiso pharaṇā): (i) tất cả phụ nữ (sabbā itthiyo), (ii) tất cả người nam (sabbe purisā), (iii) tất cả thánh nhân (sabbe ariyā), (iv) tất cả phi thánh nhân (sabbe anariyā), (v) tất cả chư thiên (sabbe devā), (vi) tất cả con người (sabbe manussā), (vii) chúng sinh ở cảnh giới thấp (sabbe vinipātikā)
- Mười phương (disā-pharaṇā):  (i) Đông, (ii) Tây, (iii) Bắc, (iv) Nam, (v) Đông Nam, (vi) Tây Nam, (vii) Đông Bắc, (viii) Tây Bắc, (ix) Thượng, (x) Hạ. 

IV. LỢI ÍCH CỦA THIỀN TÂM TỪ (Mettānisaṃsa): A.IV.150.
- Lợi ích: Không lừa dối (uju), chân thành (suju), dễ tu sửa (suvaco), nhẹ nhàng (mudu), không hung hăng (anatimānī)
 (i) Ngủ an lạc (sukhaṃ supati).
(ii) Thức giấc an lạc (sukhaṃ paṭibujjhati).
(iii) Không thấy ác mộng (Na pāpakaṃ supinaṃ passati).
(iv) Được mọi người thương mến (manussānaṃ piyo hoti).
(v) Được phi nhân (non-human beings) thương mến (amanussānaṃ piyo hoti).
(vi) Được thiên thần (deva) bảo hộ (Devatā rakkhanti).
(vii) Lửa, chất độc hoặc vũ khí không xâm phạm người từ bi (N'assa aggi vā visaṃ  satthaṃ vā kamati).
(viii) Chưa đắc quả vị cao thượng cũng sanh về cõi Phạm thiên (Uttariṃ appaṭi vijjhanto brahmalokūpago hoti).
Trong A.V.342, lợi ích tâm từ gồm 11 điều, ba điều thêm là: (ix) Định tâm đạt nhanh, (x) diện mạo trong sáng, (xi) chết không hôn mê.
- Stanford University: Thực tập thiền từ bi (Benevolence meditation, compassion meditation, meditate in metta) 7 phút giúp ta tăng cường nối kết xã hội (social connectedness)
- University of North Carolina at Chapel Hill: Thiền từ bi tạo ra cảm xúc tích cực (positive emotions) và phúc lợi (well-being)

V. GIÁ TRỊ CỦA TỪ BI
Đặc điểm/ biểu hiện của tâm từ bi (Mettā bhāvanā)
(i) Đặc điểm chung: (a) Ứng xử bất bạo động (ahimsa), dứt trừ phẫn nộ. Ud.128., (b) Thiết lập tình thân hữu, (c) Mang hạnh phúc cho tha nhân, (d) Nhiệt tâm vô tận (boundless warm-hearted feeling), (e) Kiên trì, (f) Đánh giá tốt người khác.
(ii) Bốn điều cảm hóa nhân tâm (Saṅgahavatthu): (a) Thích bố thí (dāna), (b) Ái ngữ (Piyavācā hay peyyavajja), (c) Lợi hành (Atthacariyā) tức tâm vị tha phục vụ, (d) Đồng sự (Samānattatā): dấn thân, hòa đồng, đồng đẳng, cộng vui cộng khổ. D.III.152,232; A.II.32,248;A.IV.218.363
(iii) Tránh được 4 loại thiên vị (agati): (a) Thiên vị do tình cảm (chandāgati), (b) Thiên vị do ác cảm (dosāgati), (c)  Thiên vị do thiếu hiểu biết (mohāgati), (d) Thiên vị do sợ/ áp lực (bhayāgati). D. III.182, 228; A. II.18.
(iv) Giải phóng được 4 điều kém thành đạt: (a) Tâm phẫn nộ (Kodhano), (b) Tâm ganh tỵ (Issukī), c) Tâm bỏn xẻn (Maccharī), d) Tâm thiếu hiểu biết (Duppañño). A.II.82.

VI. KẾT LUẬN
- Thái độ và giải pháp của các lãnh đạo thế giới về vụ khủng bố Paris 13-11-2015, do IS gây ra, chết 129 người Nga và Pháp, 350 bị thương. Đối với Pháp đây là khủng bố tồi tệ nhất sau thế chiến II.
1. Tổng thống Vladimir Putin:
- “Tha thứ cho bọn khủng bố là việc của Chúa, nhưng tiễn chúng về với Chúa là việc của tôi' (To forgive them is up to God, but to send them to him is up to me), russia-insider.com, ngày 18-11-2015).
- "Chúng tôi sẽ truy lùng chúng bất cứ nơi nào mà chúng đang ẩn náo. Chúng tôi sẽ phát hiện ra chúng bất kỳ nơi nào trên địa cầu này và trừng trị chúng” (We will search for them everywhere wherever they are hiding. We will find them anywhere on the planet and punish them).

2. Đức Giáo hoàng Francis nói trên TV2000 ngày 14-11-2015 (the official network of the Italian Bishops' Conference): “một phần của thế chiến thứ ba” (piecemeal third world war).
- “Tôi thấy thương tâm và tôi rất đau lòng. Tôi không hiểu, nhưng những điều này thật là khó hiểu, làm sao mà con người có thể làm những việc [nông nỗi] này. Không có cái gì có thể biện hộ cho hành động này…. Tôi rất gần gũi với quần chúng Pháp, với gia đình của các nạn nhân và tôi đang cầu nguyện cho họ.”
“I am moved and I am saddened. I don’t understand, but these things are hard to understand, how human beings can do this…. There are no justifications for these things… I am close to the people of France, to the families of the victims, and I am praying for all of them,” (bản dịch English của Vatican's official radio station)

3. Đức Dalai Lama 14 trả lời với đài Deutsche Welle,16.11.2015:
- Không thể giải quyết khủng bố bằng cầu nguyện
"Chúng ta không thể giải quyết vấn đề nầy [khủng bố Paris] chỉ bằng cầu nguyện. Tôi là một Phật tử và tôi tin vào sự cầu nguyện. Nhưng chính con người đã tạo ra vấn nạn nầy, rồi bây giờ lại xin Chúa giải quyết nó. Thật không logic chút nào. Chúa sẽ nói rằng các ngươi hãy tự giải quyết lấy vì chính các ngươi đã tạo ra nó mà”.
 (We cannot solve this problem only through prayers. I am a Buddhist and I believe in praying. But humans have created this problem, and now we are asking God to solve it. It is illogical. God would say, solve it yourself because you created it in the first place.)
- Đức Dalai Lama 14: “Chúng ta cần một cách tiếp cận có tính hệ thống để xiễn dương những giá trị nhân bản, nguyên lý về tính nhất như và sự hòa hợp. Nếu chúng ta bắt đầu bây gi, thì hy vọng rằng thế kỷ nầy sẽ khác với thế kỷ trước. Vì lợi ích của tất cả mọi người. Hãy xây dựng hòa bình từ trong mỗi gia đình và xã hội chúng ta, và đừng trông chờ vào sự trợ giúp của Chúa, của Phật hay của những chính phủ”.
"We need a systematic approach to foster humanistic values, of oneness and harmony. If we start doing it now, there is hope that this century will be different from the previous one. It is in everybody’s interest. So let us work for peace within our families and society, and not expect help from God, Buddha or the governments.”
-  “Ngoài ra, những vấn đề mà chúng ta đối diện hôm nay là kết quả của những khác biệt hời hợt về niềm tin tôn giáo và quốc gia. Chúng ta là một dân tộc mà”. (Furthermore, the problems that we are facing today are the result of superficial differences over religious faiths and nationalities. We are one people.)

Thế gian vô thường

Trích trong chương 1 " Cuộc đời vô thường " - Tác phẩm TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ giảng tại chùa Xá Lợi,ngày 6/6/2000 (Phiên tả: Diệu Duyên Quốc Mỹ)
Điều giác ngộ đầu tiên có chủ đề là "Cuộc đời vô thường",nguyên văn gồm 11 câu,mỗi câu 4 chữ như sau:
"Đệ nhất giác ngộ
Thế gian vô thường
Quốc độ nguy thúy
Tứ đại khổ không
Ngũ ấm vô ngã
Sanh diệt biến dị
Hư ngụy vô chủ
Tâm thị ác nguyên
Hình vi vô tẩu
Như thị quán sát
Tiệm ly sinh tử" 
Hai câu cuối cùng của điều giác ngộ thứ nhất này nói về tính giá trị của việc ứng dụng nó trong đời sống thông qua sự chiêm nghiệm.
Đó là ai quán sát và thực tập thì trước sau gì cũng giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.Điều này rất thống nhất với chủ trương của đoạn kinh đầu tiên.
Người đệ tử Phật,ngày cũng như đêm,phải thực tập quán chiếu,hành trì ứng dụng Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân.Giá trị của Phật pháp nằm ở chỗ ứng dụng.Kiến thức Phật pháp dù cao siêu vi diệu khó nghĩ bàn nhưng nếu biết học đúng phương pháp thì chỉ trong vòng bốn năm,chúng ta đã có thể lĩnh hội đủ.Càng học sâu hơn nữa thì ta càng biết về cái diệu dụng của nó,còn căn bản bốn năm có thể giúp chúng ta trở thành một nhà tâm linh.Giá trị đó dài hay ngắn,nhiều hay ít hoàn toàn lệ thuộc vào khả năng thực tập của chúng ta.
Các nội dung căn bản được đề cập trong điều giác ngộ thứ nhất như sau:
"Thế gian vô thường"
Hiểu nôm na là cuộc đời vô thường."Loka" được định trong chữ Hán là thế gian,có nội hàm rất rộng,từ thế giới vật chất hữu hình nhỏ nhất cho đến cực đại,thế giới vô hình.Những cái mà ta suy nghĩ rồi tư duy,cảm giác,nhận thức đều thuộc về một phần của thế giới.
Cho nên ý niệm về thế giới được hiểu bao gồm là thế giới vật chất,thế giới tâm lý và sự tương quan giữa thế giới và tâm lý thông qua các phương tiện của nhận thức được đức Phật thừa nhận là trôi chảy không dừng trụ.Thông hiểu tuyên ngôn đó,người tu học Phật sẽ tránh được những nỗi khổ niềm đâu do cõi vô thường xuất hiện.
Trong toàn bộ kinh tạng Pali,có thể nói 60% các bài kinh ngắn dạy chúng ta chiêm nghiệm về sự tương quan ba chiều,bắt đầu từ vô thường đến khổ và vô ngã.Nếu ta sắp xếp mối tương quan ba chiều này thành một tam giác thì góc đầu tiên là thái độ vô ngã,đối trị với hai phương tiện của cuộc sống là vô thường và khổ đau.
Có những nỗi khổ,niềm đau bắt đầu từ vô thường,ví dụ,chúng ta chứng kiến thân thể mình ngày càng già nua,người thân của mình vẫy tay chào với cuộc đời,nhà cửa hư hao,tài sản tổn thất,sự nghiệp suy sụp. Tất cả bất hạnh ba chìm bảy nổi xuất hiện hầu như đến mức chóng mặt,có nỗ lực nhiều nhưng thành công cũng chẳng bao nhiêu.Lúc ấy phản ứng khổ đau là hệ quả kéo theo một cách tất yếu từ khi đối diện với sự thật vô thường của cuộc sống.
Điều quan trọng nhất mà người tu học Phật cần thực hiện khi vô thường dẫn đến khổ đau là ta phải quán không có cái tôi,không có sở hữu của tôi và không có tự ngã của tôi.Khác biệt căn bản giữa người tu học Phật và người không tu học Phật nằm ở chỗ này.Vô thường không thể tránh khỏi,khổ đau có nhưng là một phản ứng tất yếu.Khổ trên thân hay khổ với tâm thì cũng đều là khổ hoặc bao gồm cả hai.Khi giác ngộ được triết lý nhà Phật,chúng ta quán chiếu vô ngã dưới ba phương tiện vừa nêu bằng hai góc độ.
Thứ nhất,không thừa nhận hoặc ly tâm hóa nỗi khổ niềm đau và bản thân chúng ta.Do đó ta có thể tách ly khỏi khổ đau một cách dễ dàng,an toàn và không có bất kỳ một phản ứng phụ nào.
Thứ hai,không thừa nhận mình là nạn nhân đang oằn oại cảm thọ những nỗi khổ niềm đau do tác nhân hoặc do xã hội,điều kiện,môi trường,hoàn cảnh gây ra,mặc dù trên thực tế nỗi khổ đang tồn tại.Tuy có tác nhân trực tiếp tạo ra những bất hạnh nhưng người tu học Phật phải quán chiếu không có tác giả hoặc không có thọ giả để nỗi khổ niềm đau có nhưng không báo ứng trên cuộc sống của ta.
Phương pháp vừa nêu trên có thể được sánh ví như một chiếc áo mưa và một chiếc nón lá.Áo mưa được hiểu là quán không có thọ giả và chiếc nón lá là không có tác giả.Người đi trong mưa sẽ không bị ướt,không bị nhiễm lạnh và do vậy ta được sống an toàn trong bão táp phong ba cuộc đời với rất nhiều thách đố.
Vì không thấy được cõi vô thường nên mỗi sự thay đổi nhỏ có thể làm ta chao đảo,vì không thấy được sự biến hoại của cuộc đời nên mỗi bất hạnh nhỏ có thể nhấn chìm chúng ta trong sầu,bi,khổ,ưu,não.
Đức Phật dạy quán chiếu vô thường là nguyên tắc đầu tiên nhằm vượt qua khổ đau.Một ngộ nhận đáng lưu tâm đó là rất nhiều người đã tố cáo Phật giáo quá tô đen về nỗi khổ niềm đau trong cõi vô thường này khiến con người trở nên dè dặt,thận trọng,thậm chí chán nản cuộc đời.
Từ khi hiểu rõ thế gian vô thường thì ta sống năng động,tích cực,và lạc quan hơn.Chìm trong khổ đau không phải là giải pháp,càng chìm vào nỗi đau nhiều chừng nào thì ta càng bế tắc chừng đó.Cho nên,ý thức về cõi vô thường và nhận được sự vô thường trong mọi sự việc hiện tượng sẽ đưa ta thoát khỏi nỗi khổ niềm đau do vô thường tạo ra.
Vô thường trong triết học Phật giáo đôi lúc còn được hiểu bằng một từ tương đương đó là "không",tức là không thực thể.Cái gì không thực thể về phương diện bản chất,cái đó chịu sự chi phối của vô thường.
Ngày hôm qua,ngày hôm nay và ngày mai là một tiến trình thời gian ba thì.Cõi quá khứ,hiện tại, và tương lai cũng là một tiến trình thời gian ba thì liên hệ đến ba kiếp sống.Nếu ta chia nhỏ tiến trình thời gian đó bằng các đơn vị nhỏ nhất mà tâm mình có thể liên tưởng được thì rõ ràng không có lúc nào có một sự dừng trụ.
Đôi lúc do thiếu hiểu biết hay do kiến thức khoa học kém,chúng ta có cảm giác ngộ nhận rằng cuộc sống này bền vững,nó an định với chúng ta nhưng khi sự thật diễn ra làm cho chúng ta thất vọng,từ thất vọng dẫn đến khổ đau.
Do đó quán thế giới vô thường giúp ta vượt qua khổ đau một cách an toàn. 
***
Nguồn: " TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ " Ứng dụng Kinh Bát Đại Nhân Giác trong cuộc sống
Quý vị có thể nghe trọn quyển qua đường link dưới đây:

Vượt qua đồi "Dương Xuân", Thiền sư Nhất Hạnh đã rời chùa Từ Hiếu

Trong ngày 4-9-2017, với tâm an nhiên và chánh niệm, cùng với nhiều đệ tử xuất gia và hàng trăm Phật tử tại gia đồng hành, sau khi trải nghiệm sự thảnh thơi, thiền sư Nhất Hạnh đã dạo quanh phong cảnh Chùa Từ Hiếu, gồm hồ bán nguyệt, cây bùi, lăng mộ thái giám, tháp sơ tổ khai sáng Chùa Từ Hiếu, đặc biệt dừng lâu bên tháp bổn sư là Thiền sư Chân Thật. Thiền sư dạo hết quang cảnh Chùa Từ Hiếu. Thật trọn nghĩa tình.
Trong tác phẩm của mình: "Hơi thở nuôi dưỡng & hơi thở trị liệu", NXB Hồng Đức, 2015, thiền sư Nhất Hạnh tâm sự rằng:  "Tôi thường mơ thấy mình trở về chùa Tổ [Từ Hiếu] để được gặp lại Thầy, các huynh đệ, các bằng hữu, các đệ tử và các tác viên thanh niên phụng sự xã hội. Trong nhiều giấc mơ tương tự, tôi thường thấy một ngọn đồi xanh mơn mởn với những hàng cây thông thật dễ thương ,tráng lệ. Trong giấc mơ, tôi luôn thấy mình leo lên tới nửa chừng đồi, và khi lên gần tới đỉnh, đột nhiên tôi thức giấc và thấy mình đang bị lưu đày. Lần nào trong giấc mơ cũng đều xảy ra y hệt như vậy. Tôi rất buồn tủi. Giấc mơ ấy cứ lặp đi lặp lại nhiều năm. Trong giấc mơ tôi thấy không bao giờ vượt qua được ngọn đồi Dương Xuân ấy! "
 
Vào lúc 18:40 ngày 3-9-2017, trước sự ngạc nhiên và xúc động của hàng trăm tăng ni và Phật tử, thiền sư Nhất Hạnh đã đặt chân lên đất Chùa Từ Hiếu, ngôi tổ đình mà thiền sư được xuất gia và tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Chân Thật, với nhiều kỷ niệm khó quên thời tuổi thơ. Sau khi tự tay mình thắp hương, xá tổ tại Tổ đường, hữu nhiễu tượng Phật trên chánh điện, đặt tay vào bệ tượng Phật, dừng chân tại thiền đường Trăng Rằm do ngài xây dựng năm 2005, thiền sư Nhất Hạnh, dưới sự trợ giúp của các thầy thị giả, dạo quang cảnh Chùa Từ Hiếu khoảng 20:00 giờ cùng ngày. Thiền sư Nhất Hạnh vượt qua “đồi Dương Xuân” về đêm.
 
Trong ngày 4-9-2017, với tâm an nhiên và chánh niệm, cùng với nhiều đệ tử xuất gia và hàng trăm Phật tử tại gia đồng hành, sau khi trải nghiệm sự thảnh thơi, thiền sư Nhất Hạnh đã dạo quanh phong cảnh Chùa Từ Hiếu, gồm hồ bán nguyệt, cây bùi, lăng mộ thái giám, tháp sơ tổ khai sáng Chùa Từ Hiếu, đặc biệt dừng lâu bên tháp bổn sư là Thiền sư Chân Thật. Thiền sư dạo hết quang cảnh Chùa Từ Hiếu. Thật trọn nghĩa tình.
 
Lần này, thiền sư Nhất Hạnh đã “vượt qua được đồi Dương Xuân” giữa ban ngày. Có các đệ tử thân tín nhất cùng làm việc “vượt qua đồi Dương Xuân” đó với ngài. Giữa ban ngày mà ai cũng nhìn thấy rõ ràng, cảm giác bị “thức giấc và thấy mình đang bị lưu đày” không còn nữa. Giấc mơ “lặp đi lặp lại nhiều năm” đó với kết cục “trong giấc mơ tôi thấy không bao giờ vượt qua được ngọn đồi Dương Xuân ấy” nay bổng chốc tan biến vào thực tại hiện tiền: “Thiền sư Nhất Hạnh đã vượt qua được đồi Dương Xuân.” Lúc 14:00 cùng ngày, sau khi vượt qua đồi Dương Xuân, thiền sư Nhất Hạnh trải nghiệm sự an lạc tại hồ bán nguyệt. Rất thanh thản, một sự im lặng hùng tráng.
 
Hoàn thành tâm nguyện “vượt qua đồi Dương Xuân” 2 lần, một lần trong đêm 3-9 và một lần  giữa ban ngày 4-9, vào lúc 15:40 ngày 4-9-2017, thiền sư Nhất Hạnh cùng với các đệ tử xuất gia và tại gia rời khỏi chốn tổ Chùa Từ Hiếu, khép lại tình trạng “bị lưu đày” trong nhiều năm, trải nghiệm sự thong dong, tự tại trước mọi không gian và thời gian.
 
>>>>
* Xem video tại facebook:
https://www.facebook.com/ChanPhapDang/posts/1818328298194998
 
* Xem tin từ Báo Giác Ngộ: https://giacngo.vn/vanhoa/phatgiao/2017/09/04/5AD08A/
Thiền sư cùng các thị giả thiền hành trên đồi Dương Xuân. Ảnh: Báo Giác Ngộ

Từng phút giây trọn vẹn với quê hương huyết thống và quê hương tâm linh. Ảnh: Báo Giác Ngộ

"Đi Việt Nam" là ý niệm mạnh mẽ kiến tạo nguồn năng lượng mầu nhiệm ít người nghĩ tới. Ảnh: Báo Giác Ngộ

Việc đi và về như bóng mây qua hồ nước lặng. Ảnh: Báo Giác Ngộ

Thiền sư dừng nơi bến hồ bán nguyệt, hướng ra tam quan tổ đình - Ảnh: FB Chan Phap Dang

Nghệ thuật sống - Biết tự làm,thay vì nhờ đến dịch vụ

Phải tự đầu tư để biết cách tiết kiệm tiền và giải quyết được các vấn nạn trong những lúc khó khăn.
Các gia đình khá giả thường có các gia nhân trong nhà.Dưới mức gia nhân là osin,họ làm các công việc giặt giũ,lau quét,bếp núc,trong coi trẻ con,người già để chủ nhà yên tâm đi làm.Khi chúng ta gặp hoàn cảnh kinh tế khó khăn,nếu không biết tiết kiệm thì việc sử dụng các dịch vụ càng khiến cho cuộc sống nan giải hơn.
Chi phí dịch vụ bao giờ cũng cao hơn là chúng ta tự làm.Trong khi đó,nếu có kiến thức thì ta có thể tự làm nhiều việc mà trước nay ta phải thông qua dịch vụ,mọi chuyện thực ra không khó như chúng ta nghĩ.
Ví dụ: nếu mua vé may bay online (mua trực tuyến qua mạng),ta có thể tiết kiệmm được tới vài trăm ngàn vào dịp lễ Tết hay mùa du lịch.
Các dịch vụ bán vé may bay sống được là nhờ vào sự kém hiểu biết của chúng ta.Họ trả tiền thuê mặt bằng rất cao,lương bổng nhân viên rất lớn mà họ vẫn giàu.
Nếu biết chắc chắn ngày đi và ngày về,ta có thể mua vé khứ hồi cố định,giá rẻ hơn vé bình thường từ vài trăm tới một triệu.Số tiền này bằng bốn,năm ngày tiền lương của một công nhân bình thường.Nhiều người chỉ vì không biết điều này mà phải mua vé đắt.
Nếu chúng ta tự nỗ lực học hỏi,tham khảo ý kiền của những người có kiến thức chuyên môn thì ta có thể tự làm nhiều việc và tiết kiệm được không ít tiền. 
Một dịch vụ khác đó là dịch vụ xin visa ở các nước Hoa Kỳ,Úc,Châu Âu.Những người làm nghề này phần lớn không nghĩ đến việc tích đức.
Họ lấy phí rất cao vì phần lớn người đi nhờ dịch vụ không biết tiếng Anh.Đã nhiều năm nay các đại sứ quán đều cung cấp dịch vụ đăng ký xin thị thực (visa) trực tiếp trên mạng.Một người chỉ cần biết tiếng Anh ở trình độ phổ thông là có thể tự điền đơn xin thị thực.Còn nhờ các dịch vụ ,họ sẽ lấy của chúng ta từ 1 đến 5 triệu đồng.Đi du học nước ngoài thì tiền dịch vụ có thể lên từ một ngàn đến hai ngàn đô la.
Công việc đăng ký trên mạng rất đơn giản,bản thân những người đi du học đều biết tiếng Anh nhưng lại không tự tin,thế là họ tốn tiền cho những việc không đáng phải chi.Lại thêm các công ty dịch vụ không chân thật,họ mời chào : "  Việc này khó lắm,nhưng tôi sẽ sắp xếp với người phỏng vấn cho con cháu ông bà được trót lọt;ông bà có cơ hội đi du lịch,thăm người thân ở nước ngoài "
Ai nghe mà chẳng mê?Điều này có thể đúng ở những nước nghèo,còn các nước phương Tây không thể làm như thế được.
Vì thiếu kiến thức nên chúng ta bị lừa dối,bị lấy tiền một cách vô lý.Sự thiếu hiểu biết của chúng ta,nói theo đạo Phật là vô minh,đã góp phần làm giàu cho các dịch vụ.Các lĩnh vực xã hội khác cũng có tình trạng tương tự như thế.
Đó là lý do tại sao trong vòng suốt 49 năm sau khi giác ngộ,Đức Phật hoằng pháp không mệt mỏi,Ngài để lại gần ba mươi ngàn bài kinh dài ngắn nhằm xóa nạn mù chữ Phật pháp,giúp con người sống hạnh phúc hơn,thành công hơn,bình an hơn.
Thiếu hiểu biết thì đi tới đâu,khổ đau có mặt đến đó.Nỗi sợ hãi xuất phát từ sự thiếu hiểu biết mà ra.Sợ hãi làm người ta độc đoán hơn,cộc cằn hơn,thiển cận hơn,xấu xa hơn,bế tắc hơn và bất chấp hơn.
Do đó, phải tự đầu tư để biết cách tiết kiệm tiền và giải quyết được các vấn nạn trong những lúc khó khăn.
_Trích :NGHỆ THUẬT SỐNG_
(Mời quý Phật tử đón đọc trọn quyển theo tập tin đính kèm)

Chính niệm trong từng cử chỉ (Tỳ-ni Nhật Dụng Thiết Yếu)

Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu (毘尼日用切要) do Luật sư Độc Thể (读体律师, 1601-1679) hiệu là Luật sư Kiến Nguyệt (见月律师), chuyên hoằng truyền giới luật ở núi Bảo Hoa, tuyển soạn (寶華山弘戒比丘讀體彙集). Tác phẩm này là tuyển tập các bài thiền kệ về luật nghi hàng ngày cho người xuất gia.
HẠ TẢI PHIÊN BẢN PDF Ở PHẦN ĐÍNH KÈM BÊN PHẢI


MỤC LỤC
Thay lời tựa
Bài 1: Thức dậy sớm, mở mắt tuệ giác
Bài 2: Thỉnh chuông tỉnh thức
Bài 3: Nghe chuông chính niệm
Bài 4: Đắp y, mặc áo quần
Bài 5: Xuống giường, gieo giống từ bi
Bài 6: Bước chân không sát hại
Bài 7: Đi ra khỏi phòng
Bài 8: Vào nhà vệ sinh, bỏ tham, sân, si
Bài 9: Rửa sạch
Bài 10: Rửa sạch nhơ bẩn
Bài 11: Rửa tay
Bài 12: Rửa mặt
Bài 13: Uống nước từ bi
Bài 14: Pháp y năm điều
Bài 15: Pháp y bảy điều
Bài 16: Pháp y giải thoát
Bài 17: Trải tọa cụ, ươm tâm linh
Bài 18: Trang nghiêm trên điện Phật
Bài 19: Ca ngợi Phật
Bài 20: Lễ bái Phật
Bài 21: Cúng bình sạch
Bài 22: Chơn ngôn uống nước
Bài 23: Quán tưởng trước khi múc cơm
Bài 24: Quán tưởng khi đã múc cơm
Bài 25: Cúng cơm cho chúng sinh
Bài 26: Cúng cơm cho chim đại bàng
Bài 27: Cúng cơm cho quỷ thần
Bài 28: Ăn cơm chính niệm
Bài 29: Nâng bát cơm ngang trán
Bài 30: Ba điều phát nguyện khi ăn cơm
Bài 31: Năm điều quán tưởng khi đang ăn
Bài 32: Kết thúc ăn cơm
Bài 33: Rửa chén bát
Bài 34: Khi mở bát cơm ăn
Bài 35: Nhận phẩm vật cúng dâng
Bài 36: Cầm tăm xỉa răng
Bài 37: Xỉa răng sau khi ăn
Bài 38: Đánh răng súc miệng
Bài 39: Khi cầm tích trượng
Bài 40: Trải dụng cụ ngồi thiền
Bài 41: Tư thế ngồi thiền
Bài 42: Chính niệm lúc ngủ
Bài 43: Nhìn thấy nước chảy
Bài 44: Khi gặp sông lớn
Bài 45: Khi thấy cầu, đường
Bài 46: Bài kệ tắm Phật
Bài 47: Tán dương Phật tổ
Bài 48: Kinh hành quanh tháp
Bài 49: Thăm viếng bệnh nhân
Bài 50: Cạo bỏ tóc râu
Bài 51: Tắm rửa thân thể
Bài 52: Rửa chân



THAY LỜI TỰA
1. NHÂN DUYÊN VÀ QUY CÁCH BIÊN SOẠN
Tác phẩm này được phiên tả từ 6 bài giảng về Tỳ-ni của chúng tôi cho Ni chúng tại Chùa Đại Bi Tâm, Thụy Điển, ngày 21-24/6/2011, theo lời mời của TT. Thích Phật Đạo, trong mùa hoằng pháp châu Âu năm 2011. Khi được Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương yêu cầu soạn giáo án Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu (毘尼日用切要) cho Tăng Ni sinh tại các Trường trung cấp Phật học trên toàn quốc, tôi bổ sung phần “chú thích từ ngữ” để giúp người học không phải tra khảo các từ điển Phật học chuyên ngành, vẫn có thể hiểu khái quát nội dung của từng bài thiền kệ.
Giáo tài này được giảng dạy trong một học kỳ, gồm 44 tiết học, chia làm 22 buổi học, mỗi buổi học 2 bài thiền kệ.
Về quy cách biên soạn, mỗi bài thiền kệ được cấu trúc gồm 5 phần như sau: (i) Nguyên tác và phiên âm, (ii) Dịch nghĩa, (iii) Chú thích từ ngữ, (iv) Giải thích gợi ý, và (v) Câu hỏi thảo luận. Tiêu đề của từng bài trong tổng số 52 bài là do tôi đặt, dựa vào nội dung của bài kệ, có khi sát với nguyên tác của từng kệ, nhưng cũng có trường hợp, tựa đặt chi tiết hơn, để làm rõ nghĩa của bài thiền kệ hơn.
Trong phần “chú thích từ ngữ”, tôi giới thiệu các thuật ngữ Phật học chính trong từng bài thiền kệ, gồm chữ Hán, tiếng Sanskrit và Pali nếu có và giải thích nội dung của từng mục từ. Đối với những từ được lặp lại từ lần thứ hai trở đi, nội dung của mục từ được giải thích trong lần xuất hiện đầu tiên. Đối với các lần xuất hiện sau đó, người học hãy truy lại lần xuất hiện đầu để ôn lại nội dung của mục từ.
Mục “giải thích gợi ý” như tên gọi của nó nhằm gợi lên vài ý tưởng để chiêm nghiệm về nội dung bài thiền kệ. Vì là lời giảng miệng trực tiếp được phiên tả nên lời giải thích trong mục này chỉ là “gợi ý”, theo nghĩa tham khảo. Hoàn toàn không có ý bắt buộc người dạy dựa vào, cũng như không bắt buộc người học phải học thuộc, như nguyên tác Hán văn và dịch nghĩa.
2. NGUỒN GỐC CỦA TÁC PHẨM
Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu (毘尼日用切要) do Luật sư Độc Thể (读体律师, 1601-1679) hiệu là Luật sư Kiến Nguyệt (见月律师), chuyên hoằng truyền giới luật ở núi Bảo Hoa, tuyển soạn (寶華山弘戒比丘讀體彙集). Tác phẩm này là tuyển tập các bài thiền kệ về luật nghi hàng ngày cho người xuất gia.
Các bài thiền kệ trong Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu này được tuyển trích từ Phẩm Tịnh Hạnh (净行品) trong kinh Hoa Nghiêm (華嚴經), phối hợp với 38 câu thần chú trong kinh điển Mật tông (密教经典中之咒). Đến thời vua Càn Long nhà Thanh (清乾隆), tổ sư thứ bảy của Bảo Hoa Sơn (宝华山) là luật sư Thích Phước Tựu ( 释福聚) đưa tác phẩm này vào Đại tạng tân toản tục Tạng Kinh (大藏新纂续藏经), quyển 60, tác phẩm thứ 1115.[1]
Luật sư Độc Thể đã biên soạn tác phẩm này vào khoảng những năm 1644 -1661. Dù không xác định được niên đại ra đời phần ứng dụng, nhu cầu thực tập các bài thiền kệ này là rất cần thiết trong chốn thiền môn. Hơn 350 năm qua, tác phẩm luật này đã trở văn bản ứng dụng luật nghi không thể thiếu đối với người xuất gia trong các tự viện Đại thừa tại Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc. Riêng tại Việt Nam, tất cả các vị xuất gia theo Đại thừa đều học thuộc lòng các bài thiền kệ chính niệm này từ lúc mới tập sự xuất gia.
Trong bản nguyên tác chữ Hán, phần lớn mỗi bài thi kệ có 4 câu. Một số bài có số câu và chữ nhiều hơn. Thỉnh thoảng, dưới mỗi bài thi kệ có một câu thần chú với mục đích trợ giúp người thực tập đạt được chính niệm trong đi, đứng, nằm, ngồi. Câu thần chú là phương tiện cột tâm, giúp ta làm chủ tâm. Những bài thi kệ không thuộc nội dung vừa nêu, thường không có câu thần chú.
Số lượng các bài thiền kệ trong nghi thức này là 52 bài, trong khi các thần chú chỉ có 38 câu. Trong nỗ lực truy nguyên các câu thần chú trong Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu bằng tiếng Sanskrit, chúng tôi thấy bài “Guide for Midday Meal – Offerings”[2] (Hướng dẫn cúng Ngọ trai) của Sea Blue Dreaming có liệt dẫn 16 câu thần chú. Trên trang nhà “Dharma Wheel” (Pháp luân)[3] về Phật giáo Đại thừa và Kim cương thừa, cũng như “Dharani Playlist”[4] (Danh mục nghe thần chú” có thêm một số thần chú khác. Bản dịch “Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” của Huyền Thanh[5] có nêu đủ các câu thần chú, ăn khớp với các câu thần chú trong các tác phẩm nêu trên. Để tiện cho tham khảo và nghiên cứu thêm về nguồn gốc của các thần chú trong Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu, tôi đã đặt các câu thần chú ngay sau các bài thiền kệ trong bản dịch tiếng Việt của tôi.  Đọc các câu thần chú nguyên tác Sanskrit sẽ thuận hơn là đọc phiên âm Hán Việt. Người chưa quen với ngữ âm Sanskrit có thể sử dụng ngữ âm Hán Việt để đọc các câu thần chú đính kèm. Vì mục đích của thần chú là giúp chúng ta đạt được chính niệm, do đó, đọc ngữ âm nguyên tác hay phiên âm Hán Việt, giá trị chính niệm đạt được cũng như nhau.
3. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ
Luật sư Độc Thể (读体律师), hiệu là Luật sư Kiến Nguyệt (见月律师) là người nổi tiếng trùng hưng Luật tông trong giai đoạn cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh (明末清初). Ngài họ Hứa (许), sinh năm 1601 (tức niên hiệu Vạn Lịch 29 của nhà Minh - 明万历二十九年) tại Sở Hùng (楚雄), huyện Vân Nam (云南). Mẹ của ngài họ Ngô (吳), mến mộ Phật pháp, một đêm nằm mộng thấy cao tăng Ấn Độ vào nhà, khi tỉnh giấc liền sinh ra ngài. Thuở nhỏ, tổ Độc Thể thích du lãm sơn thủy, cốt cách hơn người, thông tuệ đặc biệt, rất giỏi hội họa,[6] thích vẽ hình Bồ-tát Quan Âm.[7]
Năm 1632 (tức niên hiệu Sùng Chinh thứ 5 -崇祯五年), lúc 32 tuổi, khi đọc Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm (世主妙嚴品), giác ngộ chân lý, ngài xin thế phát xuất gia với tổ Hạo Như (亮如) tại núi Bảo Hồng (宝洪 山), được đặt pháp danh là Độc Thể.[8]
Năm 1639, Luật sư Tam Muội (三昧律師) mời ngài làm Giám viện (监院) của Núi Bảo Hoa (宝华山) ở Nam Kinh (南京). Từ đó, ngài chuyên giảng dạy giới luật cho đại chúng. Năm 1645 (tức niên hiệu Thuận Trị thứ hai nhà Thanh -清顺治二年), trước lúc thị tịch, luật sư Tam Muội mời ngài kế nhiệm pháp tịch (继任法席), từ đó, chính thức làm Trụ trì núi Bảo Hoa suốt hơn 30 năm, cho đến ngày qua đời.
Trong thời gian làm trụ trì núi Bảo Hoa, ngài có công trùng tu Điện tháp, xây dựng giới đàn (戒坛), mỗi năm truyền giới vào mùa xuân và mùa thu, kết hạ an cư, trở thành bậc mô phạm (模范). Vào ngày 22 tháng giêng, năm 1679 (tức niên hiệu Khang Hy thứ 18 -  康熙十八年), ngài thị tịch ở núi Bảo Hoa, trụ thế 79 năm, tăng lạp trải qua 48 mùa kết hạ.
Đóng góp to lớn của tổ Độc Thể là làm thạnh phái Luật Thiên Hoa (千華律), phục hưng giới luật (復興戒律), cải cách tùng lâm (改革叢林). Các tác phẩm về giới luật của tổ Độc Thể được xem là điển phạm của tùng lâm Phật giáo Trung Quốc vào giai đoạn cuối nhà Minh, đầu nhà Thanh (明末清初佛教叢林之典範),[9] góp phần phát triển Tăng đoàn Phật giáo Trung Quốc, và gây ảnh hưởng tích cực đến truyền thống giới luật của các nước theo Phật giáo Đại thừa, trong đó có Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Các tác phẩm tiêu biểu của luật sư Độc Thể gồm có 12 bộ sau đây: (i) Tỳ-ni chỉ trì hội tập (毗尼止持会集), 16 quyển, (ii) Tỳ-ni tác trì tục thích (毗尼作持续释), 15 quyển, (iii) Truyền giới chính phạm (传戒正范), 4 quyển, (iv) Sa-di-ni luật nghi yếu lược (沙弥尼律仪要略), 1 quyển, và (v) Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu (毗尼日用切要), 1 quyển, (vi) Thế độ chính phạm (剃度正范), 1 quyển, (vii) Tăng hành quy tắc (僧行规则), 1 quyển, (viii) Tam quy, ngũ, bát giới chính phạm (三归,五、八戒正范), 1 quyển, (ix) Hắc bạch bố-tát (黑白布萨), 1 quyển, (x) Xuất u minh giới (出幽冥戒), 1 quyển, (xi) Đại thừa huyền nghĩa (大乘玄义), 1 quyển, (xii) Dược Sư sám pháp (药师忏法), 1 quyển. Năm tác phẩm đầu là các sáng tác về giới luật đều được đưa vào Tục tạng (续藏).
4. Ý NGHĨA TỰA ĐỀ VÀ Ý NGHĨA THỰC TẬP
Tựa đề “Tỳ-ni nhật dụng thiết yếu” (毘尼日用切要) có thể dịch nôm na là “Cương yếu luật nghi hằng ngày”. “Tỳ-ni” (毗尼) là phiên âm Trung Quốc từ chữ “Vinaya” trong tiếng Pali và Sanskrit, có nghĩa là “Luật” (律), hay luật nghi (律仪). “Oai nghi” là phần nhỏ của luật nghi. Luật nghi là hệ thống giới luật mà người xuất gia ta thực tập, bao gồm oai nghi và tất cả các quy định về sự tu học của tăng đoàn, nhờ đó, phát triển giới hạnh, có tác dụng chuyển hóa, nuôi lớn tâm bồ-đề, hướng đến giác ngộ và giải thoát.
“Nhật dụng” (日用) là hành trì thường ngày từ khi mở mắt tỉnh thức sau một giấc ngủ dài đến khi ta lên giường ngủ để phục hồi sức khỏe cho ngày hôm sau. Hầu như mỗi tích tắc trôi qua trong ngày, người xuất gia đều sử dụng các bài thiền kệ để trải nghiệm chính niệm hiện tiền.
Cụm từ “Tỳ-ni nhật dụng” (毗尼日用) chỉ cho các giới luật mà người xuất gia cần tuân thủ hằng ngày (日常应遵守). Từ “thiết yếu” (切要) có nghĩa là “cương yếu” (纲要) hay “yếu lĩnh” (要领), tức những cương yếu quan trọng nhất.
Căn bản hành trì của Tỳ-ni nhật dụng là làm chủ bốn oai nghi trong đi, đứng, nằm, ngồi, từ sáng sớm đến chiều tối, mà người xuất gia cần thực tập. Đây là sinh hoạt thường nhật trong chính niệm của người xuất gia với lý tưởng cao đẹp, nhằm hướng đến một phương trời cao rộng, theo đó, thân và tâm của người xuất gia trở nên thanh tịnh và cao quý.
Tỳ-ni nhật dụng là các thực tập có khả năng giúp người xuất gia thiết lập chính niệm hiện tiền trong mọi sinh hoạt, bao gồm thức dậy, mặc áo, ăn cơm, đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, thức, ngủ v.v… nhờ đó, thân hành và tâm hành của người xuất gia trở nên thanh tịnh và đáng tôn kính.
Tỳ-ni là các luật nghi của người tu, là chiếc bè của đời sống đạo đức. Thiếu nó, con đường lội qua biển sinh tử luân hồi của người xuất gia không gì đảm bảo. Thực tập luật nghi, ta sẽ được an vui và hạnh phúc. Nên phát nguyện và nỗ lực hành trì luật nghi để có được chính niệm hiện tiền.
Đừng xem thường các luật nghi nhỏ vì nó là những chiếc phao phòng hộ, giúp ta không đánh mất chính niệm, làm chủ được sáu giác quan, làm chủ hoàn toàn được cảm xúc, ý niệm, tâm tư, nhận thức và các hành vi.
Không thực tập các oai nghi, nền tảng giới hạnh thanh cao của người xuất gia không được đảm bảo, đời sống thiền định, chuyển hóa nội tâm sẽ bị giảm đi. Để gột bỏ tham, sân, si và những thói quen mang tính bản năng, người xuất gia cần thực tập oai nghi tế hạnh. Thực tập trọn vẹn các luật nghi, ta có được chính định, phát triển tuệ giác. Mối quan hệ ba chiều giữa đạo đức, thiền định và trí tuệ không thể tách rời trong đời sống người xuất gia.
Thực tập oai nghi và tế hạnh hàng ngày của người xuất gia là điều kiện cần thiết, giúp người xuất gia nuôi lớn chính niệm và tâm bồ-đề. Trên nền tảng đời sống giới hạnh thanh tịnh thì tuệ giác được phát sinh. Kết quả tu tập hành trì chính niệm giúp ta có mặt trọn vẹn trong hiện tại, đạt được hạnh phúc bây giờ và tại đây. Thực tập chính niệm trong các oai nghi giúp ta có nhiều tiến bộ về đạo đức, thiền định và trí tuệ, vốn là các yếu tố cần thiết nhằm giúp một người xuất gia trở thành chân nhân và thánh thiện, mang lại hạnh phúc cho con người.
5. KHÁI LƯỢC NỘI DUNG TÁC PHẨM
Để giúp người học nắm bắt được nội dung, trong loạt 6 bài giảng về tác phẩm này, tôi đã phân chia thành 6 chủ đề như sau:
(i) Thực tập buổi sáng hạnh phúc: Trong phần này, chúng tôi sử dụng 7 bài kệ đầu (Tảo giác, minh chung, văn chung, trước y, hạ đơn, hành bộ bất thương trùng, xuất đường). Các bài kệ này là sự trải nghiệm chính niệm từ lúc ta mở mắt, làm những công việc đầu tiên trong ngày như dộng đại hồng chung, nghe tiếng chuông tỉnh thức, mặc áo tràng hay mặc pháp phục, bước chân xuống giường đi những bước đi trong ngày, thực tập lòng từ bi để các bước đi của chúng ta không hại các loài côn trùng vi tế. Sau đó, ta rời khỏi phòng ngủ, làm các Phật sự cần thiết. Buổi sáng có chính niệm là buổi sáng an lành.
(ii) Thực tập chuyển hóa bất tịnh: Phần này ứng dụng 6 bài thi kệ (đăng xí, tẩy tịnh, khử uế, tẩy thủ, tẩy diện, ẩm thủy) liên hệ đến nước và chức năng rửa sạch các phẩn uế và chất bất tịnh. Nhờ sự tu tập đó, thân và tâm được trang nghiêm, có nhiều giá trị Phật sự. Các bài thực tập trong phần này liên hệ đến những động tác dơ và sạch. Dơ là đối tượng quán chiếu, thực tập chuyển hóa các bất tịnh trong tâm, nếu nhờm gớm sẽ dẫn đến tình trạng phớt lờ. Có chính niệm và trí tuệ, ta sẽ thấy rác có thể trở thành hoa, bùn nhơ nước đọng trở thành dữ liệu cho hoa sen thơm ngát.
(iii) Lên chùa lạy Phật: Hay “Lễ bái trên điện Phật” là nội dung 7 bài thi kệ (ngũ y, thất y, đại y, ngọa cụ, đăng đạo tràng, tán Phật, lễ Phật) liên hệ đến y hậu, tọa cụ và lễ bái. Để lễ bái trang nghiêm, phải mặc y hậu, lên điện Phật, sử dụng tọa cụ, dùng kệ tán dương và lễ bái Phật với lòng thành kính.
(iv) Chính niệm trong ăn uống: Gồm 12 bài kệ (Cúng tịnh bình, quán thủy chơn ngôn, thọ thực, thọ thực 2, xuất sinh, đại bàng, thị giả tống thực, văn khánh thinh, ứng khí, tam đề, ngũ quán, kết trai) liên hệ đến văn hóa ẩm thực trong thiền môn,
(v) Chính niệm trong sinh hoạt: Gồm 10 bài kệ (tẩy bát, triển bát, thọ sẩn, thủ dương chi, tước dương chi, sấu khẩu, xuất tích trượng, phu đơn tọa thiền, đoan tọa, thụy miên). Thực tập chính niệm trong sinh hoạt hàng ngày bắt đầu từ những việc đơn giản như rửa chén bát, dùng tăm xỉa răng, nhận phẩm vật cúng dường, cầm gậy chống đi, trải tọa cụ, ngủ nghỉ trên giường… Tất cả những việc làm đơn giản này tạo ra uy nghiêm cho người hành trì chính niệm.
(vi) Chính niệm trong cuộc sống: Gồm 10 bài kệ (Thủ thủy, kiến đại hà, kiến kiều đạo, dục Phật, tán Phật, nhiễu tháp, khán bệnh, thế phát, mộc dục, tẩy túc). Khi nhìn dòng nước, con sông, cây cầu hoặc đang lúc ta khen ngợi Phật, làm lễ tắm Phật vào ngày rằm Phật đản, nhiễu tháp Phật, thăm các vị cao tăng, thăm bệnh một người đồng tu, người Phật tử, hay những hoạt động bình thường như cạo tóc mỗi nửa tháng một lần, tắm rửa hàng ngày, rửa chân trước khi đi ngủ, khi đi lao động về… trải nghiệm chính niệm trong các tình huống vừa nêu được xem là cần thiết đối với người xuất gia.
Thực tập tỳ-ni giúp người xuất gia đạt được chính niệm trong từng cử chỉ. Người xuất gia nào bỏ rơi Tỳ-ni thì năng lượng chính niệm sẽ bị đánh mất. Thực tập ứng dụng các bài thi kệ trong đời sống sẽ giúp người xuất gia trải nghiệm niềm an vui, vững chải và thảnh thơi.
6. CẤU TRÚC CỦA BÀI KỆ TỲ-NI
Phần lớn các bài thiền kệ gồm có 4 câu và được cấu trúc như sau: (i) Câu đầu là quán chiếu thực tại, (ii) Câu hai là cầu cho chúng sinh, (iii) Các câu cuối nêu ra quyết tâm chuyển hóa phiền não, đạt được kết quả an lạc.
Dựa vào tình huống cụ thể, các sự việc liên hệ đến đời sống như thức dậy, mặc áo, ăn cơm, uống nước, vào nhà vệ sinh, đi, đứng, nằm, ngồi… ta liên tưởng bằng sự quán chiếu phương pháp tâm linh, diệt trừ các phiền não đối lập, tiêu cực so với đối cảnh hiện tiền ta đang có mặt như thực tại.
Phát nguyện thường liên hệ đến lòng từ bi, hướng tâm vươn lên nhằm đạt được sự vô ngã và vị tha. “Cầu cho tất cả chúng sinh” khác hoàn toàn với sự cầu nguyện thông thường, vốn lấy mình làm nền tảng, lấy người thân, người thương, bà con và những mưu cầu cho bản thân mình làm chính. Khi phát nguyện, lòng từ bi của ta sẽ được lớn mạnh. Tâm vị tha, dấn thân nhập thế, giúp đời cứu người sẽ trở thành những bước thực tập rất cần thiết cho hành giả có kinh nghiệm phát triển tâm linh.
Dựa vào nội dung câu đầu tiên, sự quán chiếu tu tập gắn liền với hai câu cuối, thường mang nội dung tâm linh đặc biệt hơn, sâu sắc hơn, vượt lên trên giới hạn của thực tại.
Người thực tập cần nhớ ba nội dung căn bản trên để khi thực tập dễ đạt được kết quả. Việc học thuộc lòng các bài thiền kệ nhật dụng này rất cần thiết, giúp ta trở thành những người có chính niệm trong mọi nơi và mọi lúc.
Càng tinh tấn thực tập tỳ-ni nhật dụng lâu ngày, việc thực tập sẽ trở thành automatic, một loại thói quen không còn mang tính điều kiện. Mỗi tích tắc trong đi, đứng; nằm, ngồi; nói, nín; động, tịnh; thức và ngủ, người thực tập tỳ-ni đều nương vào các luật nghi để có chính niệm và tỉnh thức, bây giờ và tại đây.
Chùa Giác Ngộ, 20-4-2015
Thích Nhật Từ





[1] Tham chiếu:《毗尼日用切要》,收入《卍續藏》冊106。
[2] https://seabluedreaming.wordpress.com/category/poems-writings/
[3] http://www.dharmawheel.net/viewtopic.php?f=43&p=1616
[4] http://datab.us/Search/Dharani%2BPlayListIDPLVMnMk7RQz9GgKAcZxdv27RB0YJ_rxraM
[5] http://www.bodetam.org/ThuVien/PDF/T%E1%BB%B2%20NI%20NH%E1%BA%ACT%20D%E1%BB%A4NG%20THI%E1%BA%BET%20Y%E1%BA%BEU.pdf
[6]《一夢漫言》卷上云:見月幼時有「小吳道子」之譽。頁1。
[7]參陳垣《明季滇黔佛教考》(臺北:彙文堂出版社, 1987),目錄,頁2~3。
[8]《新續高僧傳》卷29〈清江寧寶華山隆昌寺沙門釋讀體傳〉,頁940。
[9]參《寶華山志》卷12,方亨咸〈見月和尚傳〉,頁509。

Con đường chuyển hóa - Ứng dụng Bát Chánh Đạo trong đời sống

Bát chánh đạo là con đường tâm linh có khả năng giúp cho người phàm trở thành bậc Thánh. Trước hết là Chánh kiến, tức tầm nhìn chân chính, yếu tố đầu tiên trong con đường Thánh mà tất cả các bậc tâm linh phải đi qua.
MỤC LỤC
Thay lời tựa

I.  Chánh kiến: Tầm nhìn và giá trị

     Hoang tưởng và sợ hãi
     Hai loại chánh kiến
     Điều kiện chánh kiến
     Hiểu sâu về nhân quả
     Im lặng thánh
     Thực tập chánh tri kiến
     Hiểu rõ vô thường
     Giá trị của chánh kiến

II.  Chánh tư duy

     Vượt trên tư duy tích cực
     Ý nghĩa chánh tư duy
     Tà tư duy sát hại
     Tà tư duy sân hận
     Tư duy mê tín dị đoan
     Tư duy tham ái

III.   Chánh ngữ: Lời nói từ ái và xây dựng

     Truyền thông qua lời nói
     Cái giá của nói giỡn
     Lời nói hòa ái
     Lời nói có văn hóa
     Nói trong chánh niệm
     Nói sự thật đúng lúc
     Tình huống nên nói
     Lời nói đúng và có giá trị

IV.  Chánh nghiệp: Hành động chân chính và hành động thánh

     Khái niệm chánh nghiệp
     Hành động không tác ý
     Hành động nào cũng có hậu quả
     Cầu nguyện
     Hồi hướng công đức
     Không giết hại
     Tôn trọng sự sống
     Làm từ thiện
     Không trộm cắp
     Cuộc sống người nghèo ấn độ
     Ban tặng chia sẻ
     Tùy hỷ
     Không tà hạnh
     Văn hóa hôn nhân ở ấn độ
     Phương pháp không tà hạnh
     Chuyển hóa tình dục

V. Chánh mạng: Lập nghiệp chân chính

     Khái niệm lập nghiệp chân chính
     Lấy trí tuệ làm sự nghiệp
     Buôn bán vũ khí
     Buôn bán người
     Bán thú và bán thịt
     Bán chất kích thích
     Bán chất độc
     Nghề tam tông miếu
     Cúng dường làm phật sự
     Ăn chơi sa đọa
     Hoài bão
     Nỗ lực tinh tấn
     Tinh thần trách nhiệm
     Thẩm sát
     Phước báo lập nghiệp
     Giá trị của lập nghiệp chân chính
VI. Chánh tinh tấn
     Tầm quan trọng chánh tinh tấn
     Bốn phương pháp hành trì
     Loại bỏ những khổ đau
     Ác chưa làm không cho phát sanh
     Không cho điều ác phát sanh
     Điều thiện đã làm  tiếp tục phát triển
     Phát triển các điều thiện
     Làm thiện trên tinh thần ba la mật
     Điều thiện chưa làm phải nỗ lực phát huy
     Tạo điều kiện cho điều thiện phát sanh
     Phát triển những điều thiện chưa có
     Tạo điều kiện cho điều thiện thành tựu trọn vẹn

VII.  Chánh niệm: Nền tảng các pháp môn

     Giá trị của chánh niệm
     Chánh niệm nội tâm
     Thực tập chánh niệm
     Chuyển hóa từ chánh niệm
     Trung hòa cảm xúc
     Thực tập tứ niệm xứ
     Quán thân bất tịnh
     Quán cảm giác
     Làm chủ cảm xúc
     Chánh niệm về tâm
     Quán pháp vô ngã
VIII. Chánh định
     Vai trò của chánh định
     Nhất tâm quán tưởng
     Loạn động tư tưởng
     Thực tập chánh định
     Những hỗ trợ chánh định
     Kết quả thực tập chánh định
     Thiền quán trên những đề mục
     Các đề mục về tử thi
     Mười đề mục về niệm
     Quán tứ vô lượng tâm, thức vô biên xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ
     Quán về thực phẩm
     Năm chi phần của định

THAY LỜI TỰA
 
Con đường thánh tám ngành” vốn được xem là độc lộ an vui và giải thoát. Khái niệm độc lộ không chỉ được hiểu theo nghĩa đen là con đường duy nhất, con đường có hiệu quả nhất mà còn phải hiểu ở mức hành giả đi trên nó nếu có sự thực hành, ứng dụng, sẽ đạt được phước đức hữu lậu, có được sự giải thoát, trở thành thánh.
Tính năng hiệu quả của Bát Chánh Đạo giúp cho hành giả vượt lên hai phong cách sống: Một bên là hưởng thụ các khoái lạc giác quan, đỉnh cao là đời sống tình dục vợ chồng; một bên là nỗ lực khổ hạnh, ép cơ thể, làm cho mất đi các hứng thú giác quan. Từ đó lầm nhận rằng, đây chính là con đường giải thoát. Bát Chánh Đạo giúp ta xa lánh hai thái cực, hai phong cách sống vừa nêu, giúp cho con người phát triển tầm nhìn chân chính, ứng dụng lòng tin vào tư duy chân chính.
Bát chánh đạo là con đường tâm linh có khả năng giúp cho người phàm trở thành bậc Thánh. Trước hết là Chánh kiến, tức tầm nhìn chân chính, yếu tố đầu tiên trong con đường Thánh mà tất cả các bậc tâm linh phải đi qua.
Kinh tạng Pàli chia Chánh kiến thành hai cấp độ, Chánh kiến hữu lậu và Chánh kiến vô lậu. Có đời sống đạo đức, phát triển các hành vi thiện, tạo ra phước báo hữu lậu, chẳng hạn việc giữ năm điều đạo đức, ba ngôi tâm linh, sau khi tái sanh làm người, được hưởng những phước đức mà mình đã tạo. Bên cạnh năm điều đạo đức, thực tập thêm mười điều lành, sau khi chết, theo cấp bậc dụng tâm và mức độ đầu tư về các việc thiện, hành giả có thể tái sanh ở nhiều cảnh giới chư thiên khác nhau, tức là đời sống con người ngoài hành tinh.
Người thực tập và sống với Chánh tri kiến là người thể hiện vô ngã dưới hai góc độ, tâm lý học và nhận thức luận. Vô ngã về mặt nhận thức luận trước nhất là hiểu rõ vũ trụ không có nguyên nhân khởi thủy, dù đó là thượng đế hay duy vật, hay đất, nước, gió, lửa. Dù duy tâm cũng thấy rất rõ tiến trình tương quan duyên khởi tạo ra sự vận hành, tồn tại, phát triển, hoại diệt… để một tiến trình mới có những bước tương tự.
Chánh tư duy là gì? Chữ Chánh, tiếng Pali gọi là Samma. Do giới hạn sự biểu đạt bằng tiếng Việt, chín chắn và tích cực chỉ là phần rất nhỏ của Chánh tư duy. Kinh điển Pàli định nghĩa Chánh tư duy là tất cả mọi khởi tâm, tác ý của con người, không vướng mắc vào tư duy tham đắm, tư duy sát hại và tư duy si mê. Theo tâm thức học Phật giáo, mọi phiền não dẫn đến những nỗi khổ đều có gốc rễ trực tiếp từ ba độc tố tham, sân, si.
Tư duy cần được các hành giả Phật giáo chuyển hóa bao gồm tư duy giết hại, tư duy sân hận, tư duy si mê và tư duy tham ái. Ai nỗ lực để giải phóng cả bốn tà tư duy được xem là chánh tư duy. Chánh tư duy ở đây không chỉ là tư duy tích cực, tư duy chín chắn hay tư duy đúng đắn theo quy nạp, tổng hợp, diễn dịch, loại suy... mà còn là tư duy vượt trội, xứng đáng cho ta tu tập, để có được an vui, giải thoát trong đời.
Khi phân tích về Chánh Ngữ trong Bát Chánh Đạo, ta có được chìa khóa kinh nghiệm tự giúp cho mình và người tháo gỡ những bế tắc như tảng băng ngầm hay tảng băng nổi trong tương quan xã hội. Chánh ngữ trong Tứ Diệu Đế giống điều đạo đức thứ tư mà tất cả người Phật tử đều khích lệ thực tập, gồm có bốn phương diện.
Thứ nhất, tuyên bố những điều đúng sự thật. Thứ hai, nói những lời xây dựng và đoàn kết. Thứ ba, nói những lời có văn hóa và nhân cách. Thứ tư, nói những lời có lợi ích và giá trị. Phần lớn nếu không để ý ta sẽ tưởng rằng giới thứ tư chỉ là không được nói láo. Nếu bỏ mất đi ba phương diện còn lại quan trọng trong phương tiện truyền thông. Phần tuyên ngôn sự thật là bước đi đầu tiên, ba phương diện còn lại nếu thiếu thì truyền thông được xem là bế tắc.
Kinh Tăng Chi và kinh Trung Bộ có nhiều định nghĩa đề cập tới hành động chân chính. Nội dung thống nhất với nhau gọi là hành động chân chính, tức chánh nghiệp bao gồm: Không sát hại, không trộm cắp và không tà hạnh trong các dục. Định nghĩa đơn giản nhưng phần ứng dụng triển khai rất chi tiết trong các kinh. Phác họa theo cách nối kết với nhau giúp ta dễ dàng hình dung được bản chất của hành động chân chính là nền tảng dẫn tới một hành động Thánh. Nói cách khác, không có hành động thánh của một thánh nhân mà không bao gồm hành động chân chính.
Lập nghiệp chân chính quan trọng hơn khái niệm “Lạc nghiệp” trong cách diễn đạt dân gian “An cư lạc nghiệp”. An cư được hiểu là được ở yên, ổn định một chỗ không phải di chuyển, không bị tác động bởi môi trường, điều kiện xung quanh dẫn đến nghề nghiệp ổn định, mang lại hạnh phúc. Sự lập nghiệp chân chính vốn đã bao gồm hai yếu tố này và cả những yếu tố khác như đạo đức, hiến pháp và nhận thức chân chính.
Ai sống đúng với chánh mạng mới có cơ hội thành tựu tám yếu tố Chánh đạo còn lại. Không có chánh mạng không có chánh tri kiến và ngược lại. Người sống tà mạng chỉ có thể tà tư duy vì tư duy đó dựa trên tham, sân, si.
Chánh tinh tấn với ba phương diện bỏ ác, làm lành và thanh tịnh tâm được đức Phật mô tả qua bài kệ Pháp cú 183:
Không làm các điều ác Dấn thân các việc lành Giữ động cơ thanh tịnh Là tinh hoa Phật dạy.
Yếu tố Chánh tinh tấn là điểm quan trọng tạo ra một mối liên hệ mật thiết về phương diện nhân quả hành trì với năm yếu tố đầu: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng. Hai yếu tố sau nhất điểm con đường tu tập là Chánh niệm và Chánh định. Trong bảy yếu tố của Bát Chánh Đạo, yếu tố nào thiếu đi Chánh tinh tấn thì con đường tu tập không được kết quả. Mặc dù đứng ở vị trí thứ sáu nhưng tầm quan trọng của nó hỗ trợ cho các yếu tố còn lại dẫn đến sự thành công.
Chánh Niệm là cẩm nang đời sống tâm linh, là thực tập thường nhật của tất cả hành giả. Trong Bát Chánh đạo, quan trọng thứ nhất là Chánh kiến và Chánh tinh tấn, sau đó là Chánh niệm. Khi có Chánh niệm, phát ngôn của chủ thể nhận thức bao giờ cũng là ngôn ngữ từ ái, hòa hợp, văn hóa và lợi lạc. Khi có Chánh niệm đi đầu các hành động của thân không dính đến sát sanh, trộm cướp và tà hạnh, tránh được tất cả các tai nạn lao động, tai nạn giao thông.
Chánh Niệm là tiến trình điều chỉnh thái độ nhận thức và phản ứng của cảm xúc để giúp con người không rơi vào hai thái cực vừa nêu. Nhờ đó, hành giả loại trừ, vượt qua được lòng tham, sân; do vậy nhổ lên được gốc rễ của si. Nói cách khác, khi thực tập Chánh niệm ta giải quyết được các phần bợn nhơ của thân và tâm ở mức độ khá đáng kể.
Chánh định là tầng thứ 8 của tòa tháp 8 tầng, lệ thuộc rất nhiều vào 7 tầng tháp dưới. Để chánh định có mặt sớm, bền vững, cho đến lúc hành giả chứng đắc đạo quả giải thoát, 7 tầng đầu không thể không có.
Chánh định không nên hiểu đơn thuần là tập trung tâm ý. Nó là sự huấn luyện tâm thức, trên nền tảng ba yếu tố thiện không tham, không sân, không si.
Nói tóm lại, Chánh định giải quyết vấn đề khổ đau. Chánh kiến bắt đầu vấn đề của đời sống tâm linh ở mức độ cao. Sáu chi phần còn lại là những hỗ trợ cần thiết không thể thiếu. Ai không hoàn tất được tất cả bảy điều chân chánh trong Bát chánh đạo khó có thể đạt được Chánh định. Hành giả dù tu pháp môn nào cần thực tập bảy yếu tố ban đầu, từ Chánh kiến cho đến chánh niệm, nhờ đó Chánh định mới có thể đạt được ở mức độ cao nhất. Bỏ qua bảy yếu tố chân chính đầu, không thể có được chánh định, đó là điều mà chúng ta phải tin. Nhờ có chánh định, tuệ giác phát sinh, hành giả đạt được giải thoát.

TT. Thích Nhật Từ

Tổng Biên tập
Tạp chí và Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay